nhãn hiệu và tên thương mại - HALI CONSULTANCY

7 vấn đề xung đột giữa nhãn hiệu và tên thương mại

Mặc dù cả pháp luật SHTT và pháp luật thương mại hiện hành đã có những quy định nhằm ngăn chặn xung đột giữa nhãn hiệu và tên thương mại, tuy nhiên, thực tiễn áp dụng pháp luật và giải quyết tranh chấp về vấn đề này vẫn còn rất nhiều vướng mắc và bất cập.

1. Về thời điểm xác lập quyền sở hữu công nghiệp đối với nhãn hiệu và tên thương mại.

Theo quy định tại khoản 3 Điều 6 Luật SHTT, quyền sở hữu công nghiệp đối với nhãn hiệu “được xác lập trên cơ sở quyết định cấp văn bằng bảo hộ của cơ quan nhà nước có thẩm quyền theo thủ tục đăng ký” (trừ nhãn hiệu nổi tiếng được xác lập trên cơ sở sử dụng) còn quyền đối với tên thương mại “được xác lập trên cơ sở sử dụng hợp pháp tên thương mại đó” mà không cần thực hiện thủ tục đăng ký tại Cục Sở hữu trí tuệ.

Như vậy, thời điểm xác lập quyền sở hữu công nghiệp đối với nhãn hiệu căn cứ vào văn bằng bảo hộ nhãn hiệu, không phụ thuộc vào việc người đăng ký đã sử dụng nhãn hiệu đó hay chưa, sử dụng vào thời điểm nào. Trong khi đó, quyền sở hữu công nghiệp đối với tên thương mại chỉ phát sinh khi tên thương mại đó đã được chủ thể sản xuất kinh doanh sử dụng trên thực tế. Theo Điều 29 Luật Doanh nghiệp năm 2014 thì tên doanh nghiệp được xác định trong giấy đăng ký doanh nghiệp của chủ thể kinh doanh, nhưng điều đó không có nghĩa là quyền đối với tên thương mại được phát sinh ngay tại thời điểm hoàn thành thủ tục đăng ký và được cấp giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp. Theo hướng dẫn tại Điều 1.6 Thông tư số 01/2007/TT-BKHCN ngày 14/02/2007 (Thông tư 01/2007)[1]khi sử dụng quyền và giải quyết tranh chấp quyền đối với tên thương mại, chủ thể có tên thương mại phải chứng minh quyền của mình bằng các chứng cứ thể hiện thời gian, lãnh thổ, lĩnh vực trong đó tên thương mại đã được chủ thể đó sử dụng”. Theo quy định của pháp luật SHTT, thời điểm xác lập quyền đối với tên thương mại của chủ thể kinh doanh căn cứ vào thời điểm và quá trình chủ thể đó sử dụng tên thương mại trong hoạt động của mình, gắn với khu vực và lĩnh vực kinh doanh. Vì vậy, thực tế sẽ xảy ra trường hợp thời điểm đăng ký kinh doanh không đồng nhất với thời điểm doanh nghiệp chính thức hoạt động và sử dụng tên thương mại. Trong những trường hợp này, việc xác định chính xác thời điểm xác lập quyền sở hữu công nghiệp đối với tên thương mại sẽ khó khăn, đặc biệt tranh chấp sẽ càng phức tạp khi tên thương mại đó lại xung đột với nhãn hiệu của chủ thể khác được xác lập trong khoảng thời gian này.

 2. Về xung đột quyền giữa tên thương mại và nhãn hiệu đã được sử dụng và thừa nhận rộng rãi hoặc nhãn hiệu nổi tiếng

Để ngăn chặn trường hợp tên thương mại được đăng ký xâm phạm quyền sở hữu công nghiệp đối với nhãn hiệu đang được bảo hộ, Điều 19 Nghị định 78/2015/NĐ-CP về đăng ký kinh doanh quy định chủ thể quyền đối với nhãn hiệu phải cung cấp các tài liệu làm căn cứ để xác định tên thương mại bị coi là xâm phạm quyền SHCN bao gồm: “Bản sao hợp lệ Giấy chứng nhận đăng ký nhãn hiệu,…,bản trích lục Sổ đăng ký quốc gia về nhãn hiệu… được bảo hộ do cơ quan quản lý nhà nước về sở hữu công nghiệp cấp; bản sao hợp lệ Giấy chứng nhận nhãn hiệu đăng ký quốc tế được bảo hộ tại Việt Nam do cơ quan quản lý nhà nước về sở hữu công nghiệp cấp”. Với quy định này, chủ sở hữu nhãn hiệu chỉ có thể chứng minh việc đăng ký tên thương mại là xâm phạm quyền đối với nhãn hiệu khi nhãn hiệu đó đã được đăng ký và được cấp văn bằng bảo hộ.

Tuy nhiên, bên cạnh những nhãn hiệu được đăng ký, khoản 2 Điều 74 Luật SHTT còn quy định về hai ngoại lệ nhãn hiệu có thể được bảo hộ mà không cần đăng ký, đó là nhãn hiệu được sử dụng và thừa nhận rộng rãi, quy định tại Điều 74.2.(g) và nhãn hiệu nổi tiếng quy định tại Điều 74.2.(i). Vì vậy, trong trường hợp một chủ thể kinh doanh đăng ký tên doanh nghiệp trùng với nhãn hiệu của người khác đã được người tiêu dùng biết đến rộng rãi hoặc được coi là nổi tiếng thì chủ thể đang sử dụng nhãn hiệu khó có thể chứng minh việc sử dụng tên thương mại là xâm phạm quyền SHCN theo quy định kể trên. Quy định của pháp luật thương mại chưa có quy định cụ thể để giải quyết tình huống xung đột quyền này.

3. Về điều kiện bảo hộ nhãn hiệu và tên thương mại theo pháp luật sở hữu trí tuệ và pháp luật thương mại

Đối với nhãn hiệu, theo quy định tại điểm k khoản 2 Điều 74 Luật SHTT, dấu hiệu không được bảo hộ là nhãn hiệu nếu “trùng hoặc tương tự với tên thương mại đang được sử dụng của người khác, nếu việc sử dụng dấu hiệu đó có thể gây nhầm lẫn cho người tiêu dùng về nguồn gốc hàng hóa, dịch vụ”. Điều 39.12.a Thông tư 01/2007/TT-BKHCN hướng dẫn dấu hiệu bị coi là gây nhầm lẫn về nguồn gốc, xuất xứ của hàng hoá, dịch vụ trong trường hợp: (iii) “Dấu hiệu là từ ngữ trùng hoặc tương tự với tên thương mại của người khác đã được sử dụng một cách hợp pháp cho cùng loại hàng hoá, dịch vụ và có khả năng làm cho người tiêu dùng lầm tưởng rằng hàng hoá, dịch vụ mang dấu hiệu là do người có tên thương mại nói trên sản xuất, thực hiện.” Trong trường hợp này, nhãn hiệu bị coi là không có khả năng phân biệt nếu: (i) trùng hoặc tương tự với tên thương mại của người khác đã được sử dụng hợp pháp; (ii) sử dụng cho cùng loại hàng hóa, dịch vụ; (iii) có khả năng gây nhầm lẫn cho người tiêu dùng. Quy định này của thông tư 01/2007 chưa bảo đảm tính khái quát và chưa dự liệu đến các trường hợp xung đột nhãn hiệu và tên thương mại sau đây:

Trường hợp 1: Hàng hóa, dịch vụ mang nhãn hiệu mặc dù “không cùng loại” với hàng hóa, dịch vụ của chủ thể có tên thương mại nhưng “tương tự”, “có liên quan”: ví dụ chủ thể A đăng ký nhãn hiệu “X” cho thực phẩm, đồ uống; trong khi đó, chủ thể B đã đăng ký tên thương mại “X” cho dịch vụ nhà hàng. Trong trường hợp này, sản phẩm thực phẩm, đồ uống “không cùng loại” với dịch vụ nhà hàng nhưng tương tự, có liên quan mật thiết, có khả năng gây nhầm lẫn cho người tiêu dùng về nguồn gốc của hàng hóa, dịch vụ.

Trường hợp 2: Khi tên thương mại xung đột với nhãn hiệu nổi tiếng thì kể cả khi được sử dụng cho hàng hóa, dịch vụ khác loại, không có liên quan thì khả năng gây nhầm lẫn vẫn xảy ra. Ví dụ nhãn hiệu Coca Cola là nhãn hiệu nổi tiếng cho sản phẩm đồ uống. Nếu chủ thể B đăng ký tên Coca Cola làm tên thương mại cho Ngân hàng vẫn có thể gây ra sự nhầm lẫn cho người tiêu dùng về việc ngân hàng này có liên quan đến Công ty Coca Cola, mặc dù đồ uống và ngân hàng không có liên quan đến nhau.

4. Về phạm vi bảo hộ nhãn hiệu và tên thương mại

Nhãn hiệu được bảo hộ trong phạm vi lãnh thổ, trong khi đó, tên thương mại được bảo hộ trong phạm vi lĩnh vực và khu vực kinh doanh của chủ thể sử dụng tên thương mại. Theo quy định của Điều 76 Luật SHTT, tên thương mại chỉ được bảo hộ nếu “có khả năng phân biệt chủ thể kinh doanh mang tên thương mại đó với chủ thể kinh doanh khác trong cùng lĩnh vực và khu vực kinh doanh”. Khoản 21 Điều 4 Luật SHTT quy định “khu vực kinh doanh” là “khu vực địa lý nơi chủ thể kinh doanh có bạn hàng, khách hàng hoặc có danh tiếng”. Với quy định này “khu vực kinh doanh” dựa trên phạm vi hoạt động của chủ thể kinh doanh, có thể chỉ giới hạn trong phạm vi một địa phương, cũng có thể trên phạm vi toàn quốc (giống như nhãn hiệu), thậm chí vượt ra khỏi biên giới quốc gia. Ví dụ các chủ thể kinh doanh như ngân hàng, các hãng hàng không thường xuyên có các giao dịch, hoạt động kinh doanh không chỉ ở phạm vi quốc gia mà ở cả phạm vi quốc tế.

Riêng đối với tên doanh nghiệp, pháp luật doanh nghiệp có những quy định cụ thể về phạm vi bảo hộ tên doanh nghiệp. Trước đây, việc quản lý doanh nghiệp theo địa giới hành chính và căn cứ vào các yếu tố như nơi doanh nghiệp đặt trụ sở chính, chi nhánh hay nơi doanh nghiệp đặt văn phòng giao dịch. Điều 11 Nghị định 88/2006/NĐ-CP của Chính phủ ngày 29/08/2006 về đăng ký kinh doanh quy định: “Không được đặt tên trùng hoặc tên gây nhầm lẫn với tên của doanh nghiệp khác đã đăng ký trong phạm vi tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương”, có nghĩa hai doanh nghiệp cùng lĩnh vực kinh doanh nhưng khác về phạm vi tỉnh, thành vẫn có thể đăng ký tên thương mại trùng. Rõ ràng là quy định của Nghị định 88/2006/NĐ-CP về đăng ký tên doanh nghiệp không thống nhất với quy định về điều kiện bảo hộ tên thương mại trong Luật SHTT, dẫn đến trong thực tế xảy ra rất nhiều tranh chấp khi hai chủ thể kinh doanh trong cùng lĩnh vực nhưng khác về nơi đăng ký kinh doanh lại đăng ký tên thương mại hoàn toàn trùng nhau…

Nhằm khắc phục sự thiếu thống nhất giữa pháp luật về đăng ký kinh doanh và pháp luật SHTT, Nghị định 43/2010/NĐ-CP về đăng ký doanh nghiệp được Chính phủ ban hành ngày 15/04/2010 đã có những sửa đổi cơ bản về đăng ký tên doanh nghiệp. Điều 14 Nghị định 43/2010/NĐ-CP quy định về những điều cấm khi đặt tên doanh nghiệp, trong đó khoản 1 quy định: “Không được đặt tên trùng hoặc tên gây nhầm lẫn với tên của doanh nghiệp khác đã đăng ký trong phạm vi toàn quốc, trừ những doanh nghiệp đã bị thu hồi Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp, các doanh nghiệp đã giải thể. Quy định này được áp dụng kể từ ngày 01 tháng 01 năm 2011”. Quy định này đã phần nào giải quyết được mâu thuẫn giữa quy định về đăng ký doanh nghiệp và quy định của pháp luật SHTT liên quan đến điều kiện bảo hộ tên thương mại.

Với tinh thần trên, Điều 17 Nghị định 78/2015/NĐ-CP thay thế Nghị định 43/2010/NĐ-CP quy định: “Người thành lập doanh nghiệp hoặc doanh nghiệp không được đặt tên doanh nghiệp trùng hoặc gây nhầm lẫn với tên của doanh nghiệp khác đã đăng ký trong Cơ sở dữ liệu quốc gia về đăng ký doanh nghiệp trên phạm vi toàn quốc, trừ những doanh nghiệp đã giải thể hoặc đã có quyết định có hiệu lực của Tòa án tuyên bố doanh nghiệp bị phá sản”.

Mặc dù pháp luật thương mại đã có những sửa đổi phù hợp với pháp luật SHTT, tuy nhiên, thực tế vẫn tồn tại trường hợp xung đột khi các doanh nghiệp trong cùng lĩnh vực kinh doanh đã đăng ký trùng tên theo Nghị định 88/2006/NĐ-CP trước đây. Để giải quyết tình trạng xung đột này, Nghị định 43/2010/NĐ-CP và Nghị định 78/2015/NĐ-CP đều đưa ra giải pháp là “khuyến khích” các doanh nghiệp đăng ký đổi tên hoặc bổ sung tên địa danh để làm yếu tố phân biệt với các doanh nghiệp trùng tên ở các tỉnh thành khác. Thực tế, việc đổi tên hay bổ sung một yếu tố nào đó vào tên doanh nghiệp là điều mà hầu hết các doanh nghiệp thường không mong muốn (trừ khi ở vào hoàn cảnh bắt buộc) vì nó ảnh hưởng nhiều đến hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp như: phải thay đổi toàn bộ hồ sơ, giấy tờ, con dấu, bảng hiệu, quảng cáo… có liên quan. Vì vậy, cách giải quyết xung đột này là không triệt để.

5. Về xử lý xung đột giữa bảo hộ nhãn hiệu và tên thương mại

Trường hợp xung đột giữa nhãn hiệu và tên thương mại được bảo hộ trước, nhãn hiệu chỉ có thể bị hủy trên cơ sở khiếu nại của chủ sở hữu tên thương mại theo quy định tại Điều 96 Luật SHTT với lý do nhãn hiệu không đáp ứng được điều kiện bảo hộ tại thời điểm cấp văn bằng. Tuy nhiên, theo quy định tại khoản 3 Điều 96 Luật SHTT, việc hủy bỏ hiệu lực văn bằng bảo hộ nhãn hiệu chỉ được thực hiện nếu nhãn hiệu được cấp chưa quá 5 năm (trừ trường hợp người khiếu nại chứng minh được việc đăng ký nhãn hiệu với động cơ không trung thực). Như vậy, việc song song tồn tại nhãn hiệu và tên thương mại trùng của hai chủ thể khác nhau vừa gây ra sự nhầm lẫn cho người tiêu dùng, đồng thời ảnh hưởng đến hoạt động sản xuất, kinh doanh của doanh nghiệp mà không có cách giải quyết.

6. Về tra cứu thông tin đăng ký nhãn hiệu và tên thương mại

Hiện nay, việc đăng ký nhãn hiệu phải trải qua quá trình thẩm định để đánh giá khả năng tương tự gây nhầm lẫn của nhãn hiệu. Mặc dù điểm k khoản 2 Điều 74 Luật SHTT quy định nhãn hiệu bị coi là không có khả năng phân biệt “nếu trùng hoặc tương tự với tên thương mại đang được sử dụng của người khác”, nhưng theo quy chế thẩm định đơn nhãn hiệu, nguồn thông tin bắt buộc để tra cứu đơn đăng ký nhãn hiệu không bao gồm cơ sở dữ liệu quốc gia về doanh nghiệp đã được đăng ký kinh doanh tại Việt Nam. Thực tế, nguồn thông tin về đăng ký doanh nghiệp chỉ được xem xét khi có đơn phản đối đăng ký nhãn hiệu hoặc yêu cầu hủy bỏ văn bằng bảo hộ nhãn hiệu trên cơ sở quyền đối với tên thương mại được bảo hộ trước; hoặc việc tra cứu nguồn này chỉ trong trường hợp cần thiết theo quan điểm của thẩm định viên phụ trách vụ việc. Ngược lại, trong việc đăng ký doanh nghiệp, cơ quan đăng ký cũng không tra cứu sang cơ sở dữ liệu về nhãn hiệu của Cục SHTT mà “đẩy” trách nhiệm tra cứu sang cho doanh nghiệp đăng ký. Thêm vào đó, mặc dù hiện nay, cơ quan nhà nước về quản lý kinh doanh và Cơ quan nhà nước quản lý SHTT (Cục SHTT) đã có hệ thống tra cứu công khai, tuy nhiên, hệ thống tra cứu vẫn còn rất nhiều bất cập. Cơ sở dữ liệu công khai về SHCN do Cục SHTT quản lý (viết tắt là IPLib) không được cập nhật thường xuyên, dẫn đến khả năng tên thương mại và nhãn hiệu bị trùng hoặc tương tự là hoàn toàn có thể xảy ra. Do vậy, tình trạng chồng lấn, xung đột quyền vẫn xảy ra, gây ra những tranh chấp, tổn thất về tiền bạc và cả uy tín cho nhiều chủ thể sản xuất, kinh doanh.

Một vấn đề nữa là ở Việt Nam hiện nay, việc đăng ký doanh nghiệp thuộc sự quản lý của rất nhiều bộ, ngành khác nhau. Bộ Kế hoạch và Đầu tư quản lý tên thương mại của các doanh nghiệp đăng ký kinh doanh theo Luật Doanh nghiệp; Bộ Tư pháp quản lý tên thương mại của các tổ chức hành nghề dịch vụ pháp lý; Bộ Công thương quản lý tên doanh nghiệp của các Sở giao dịch hàng hóa; Bộ Tài chính quản lý tên thương mại của các doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực bảo hiểm; Ngân hàng Nhà nước quản lý tên thương mại của các ngân hàng; Ủy ban Chứng khoán Nhà nước quản lý tên thương mại của các doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực chứng khoán… Các cơ quan kể trên (ngoại trừ Bộ Kế hoạch và Đầu tư) đều không phải là cơ quan đăng ký kinh doanh mà chỉ là cơ quan cấp giấy phép thành lập (thay cho Giấy đăng ký kinh doanh) nhưng lại không có báo cáo hay thông tin lại cho cơ quan quản lý kinh doanh. Đối với những chủ thể kinh doanh mà không phải là doanh nghiệp, thì thực tế không có cơ sở dữ liệu để thống kế, tra cứu. Điều này càng gây ra nhiều khó khăn, bất cập cho việc tra cứu thông tin để giải quyết tranh chấp, xung đột giữa nhãn hiệu và tên thương mại.

7. Vướng mắc trong biện pháp xử lý xung đột nhãn hiệu và tên thương mại

Tại Điều 11 Nghị định 99/2013/NĐ-CP ngày 29/08/2013 quy định xử phạt vi phạm hành chính đối với hành vi xâm phạm quyền đối với nhãn hiệu, tên thương mại, trong đó có quy định biện pháp khắc phục hậu quả là: “Buộc thay đổi tên doanh nghiệp, loại bỏ yếu tố vi phạm trong tên doanh nghiệp”. Tuy nhiên, cơ quan xử phạt không có thẩm quyền trong việc buộc doanh nghiệp phải đổi tên. Trong trường hợp tổ chức, cá nhân vi phạm không thực hiện việc đổi tên doanh nghiệp trong thời hạn do pháp luật quy định thì cơ quan có thẩm quyền xử lý vi phạm thông báo cho Phòng Đăng ký kinh doanh để yêu cầu doanh nghiệp báo cáo giải trình theo quy định tại Điểm c Khoản 1 Điều 209 Luật Doanh nghiệp. Trường hợp doanh nghiệp không báo cáo, Phòng Đăng ký kinh doanh thực hiện thu hồi Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp theo quy định tại Điểm d Khoản 1 Điều 211 Luật Doanh nghiệp.[2] Mặc dù so với các văn bản trước đây, Điều 19 Nghị định 78/2015/NĐ-CP được coi là đưa ra giải pháp khả thi để xử lý doanh nghiệp vi phạm nhãn hiệu, tuy nhiên, việc xử lý này vẫn còn khá phức tạp, kéo dài, đòi hỏi phải có cơ chế phối hợp chặt chẽ giữa cơ quan quản lý tên doanh nghiệp với cơ quan thực thi quyền SHCN.

[1] Thông tư số 01/2007/TT-BKHCN ngày 19/02/2007 hướng dẫn thi hành Nghị định số 103/2006/NĐ-CP ngày 22/09/2006 của Chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật SHTT về sở hữu công nghiệp, được sửa đổi bổ sung theo Thông tư số 13/2010/TT-BKHCN ngày 30/07/2010 và Thông tư số 18/2011/TT-BKHCN ngày 22/07/2011

[2] Điều 19 Nghị định 78/2015/NĐ-CP

bảo hộ nhãn hiệu và thương hiệu

Nhãn hiệu và chức năng của Nhãn hiệu

Khái niệm về nhãn hiệu

Nhãn hiệu là những dấu hiệu dùng để phân biệt hàng hoá dịch vụ cùng loại được sản xuất hoặc cung cấp bởi các Doanh nghiệp khác nhau. Nó phải là những dấu hiệu có thể nhìn thấy được bao gồm từ, ngữ, cụm từ, logo, hình ảnh hoặc sự kết hợp các yếu tố này thể hiện dưới dạng đen trắng hoặc màu sắc.

Theo định nghĩa của Tổ chức sở hữu trí tuệ thế giới (WIPO), nhãn hiệu là “dấu hiệu có khả năng phân biệt hàng hóa hoặc dịch vụ của doanh nghiệp này với hàng hóa, dịch vụ của doanh nghiệp khác” [1].

Khoản 16 Điều 4 Luật Sở hữu trí tuệ Việt Nam (Luật SHTT) đưa ra định nghĩa tương tự: “Nhãn hiệu là dấu hiệu dùng để phân biệt hàng hóa, dịch vụ của các tổ chức, cá nhân khác nhau”. Với quy định này, Luật SHTT Việt Nam đã chỉ rõ chức năng của nhãn hiệu là để phân biệt sản phẩm, dịch vụ của các nhà sản xuất, kinh doanh khác nhau

Chức năng của nhãn hiệu

Chức năng phân biệt và chỉ dẫn nguồn gốc

Nhãn hiệu thường đi kèm với sản phẩm và dịch vụ, là công cụ để Người tiêu dùng biết sản phẩm dịch vụ do đơn vị nào cung cấp. Do đó phân biệt sản phẩm/dịch vụ giữa các Doanh nghiệp chính là vai trò đầu tiên của nhãn hiệu.

Người tiêu dùng khi lựa chọn sản phẩm dịch vụ rất chú trọng đến nguồn gốc xuất xứ của sản phẩm dịch vụ đó. Và nhãn hiệu sẽ là công cụ thực hiện chức năng này để từ đó xây dựng uy tín sản phẩm của Doanh nghiệp trong mắt Người tiêu dùng, giúp Người tiêu dùng lựa chọn đúng sản phẩm uy tín.

Chức năng quảng cáo hoặc tiếp thị

Một nhãn hiệu được quảng bá và tiếp thị rộng rãi trên thị trường sẽ giúp sản phẩm dịch vụ mang nhãn hiệu đó tiếp cận tới gần gũi với Người tiêu dùng hơn. Thông qua đó, nâng cao được vị thế cạnh tranh của thương hiệu trên thị trường, đồng thời giúp Người tiêu dùng dễ dàng phân biệt sản phẩm dịch vụ của Doanh nghiệp này với Doanh nghiệp khác.

[1] “A trademark is a sign capable of distinguishing the goods or services of one enterprise from those of other enterprises” http://www.wipo.int/trademarks/en/

Để biế thêm thông tin chi tiết và quy trình đăng ký Nhãn hiệu, Quý khách vui lòng liên hệ ngay với chúng tôi để được tư vấn miễn phí 24/7 và ngay lập tức:

CÔNG TY TNHH TƯ VẤN HALI (HALILAW)

Số 3, ngõ 409 đường Kim Mã, phường Ngọc Khánh, quận Ba Đình, thành phố Hà Nội

Hotline/zalo/viber: 0968.35.11.00

Email: info@halilaw.com

chi phí đăng ký nhãn hiệu - HALILAW

CHI PHÍ ĐĂNG KÝ NHÃN HIỆU 2018

Chi phí đăng ký Nhãn hiệu 2018 phụ thuộc vào số nhóm sản phẩm/dịch vụ theo Bảng phân loại hàng hóa/dịch vụ quốc tế Ni-xơ

Theo đó, các chi phí dự kiến cho việc Đăng ký Nhãn hiệu như sau:

Giai đoạn 1: Tra cứu chuyên sâu

Mặc dù tra cứu chuyên sâu không phải là một thủ tục bắt buộc khi nộp đơn đăng ký Nhãn hiệu, tuy nhiên, việc tra cứu này nhằm mục đích đánh giá khả năng bảo hộ thành công của nhãn hiệu (độ chính xác lên đến 90-95%). Kết quả sẽ được gửi tới Quý Khách hàng trong vòng 02-03 ngày làm việc.

Chi phí tra cứu chuyên sâu khả năng bảo hộ của Nhãn hiệu phụ thuộc vào số nhóm sản phẩm/dịch vụ, với chi phí 500.000 VNĐ/nhóm. Tuy nhiên, dựa trên mong muốn hợp tác lâu dài với Quý Khách hàng, chúng tôi áp dụng mức ưu đãi giảm từ 10-30% phí dịch vụ cho việc tra cứu chuyên sâu từ nhóm thứ hai trở đi.

Nội dung công việc Chi phí (VNĐ)
1. Tra cứu chuyên sâu để đánh giá khả năng bảo hộ cho 1 Nhãn hiệu cho 1 nhóm dịch vụ đầu tiên 500.000
2. Tra cứu chuyên sâu cho mỗi nhóm dịch vụ tiếp theo 350.000 – 500.000

Giai đoạn 2: Nộp đơn đăng ký

Sau khi có kết quả tra cứu chuyên sâu, Quý Khách hàng có thể lựa chọn các nhóm có khả năng đăng ký cao để tiến hành nộp đơn tại Cục SHTT, với chi phí đăng ký cụ thể như sau:

Nội dung công việc Lệ phí nhà nước Phí dịch vụ
1. Nộp đơn đăng ký cho 1 nhãn hiệu cho 1 nhóm đầu tiên (không quá 6 dịch vụ) 1.000.000 Liên hệ
2. Nộp đơn đăng ký cho mỗi nhóm tiếp theo trong cùng một đơn, mỗi nhóm không quá 6 dịch vụ 730.000 Liên hệ
Cộng 2.460.000 Liên hệ

Giai đoạn 3: Cấp bằng

Sau khi đơn được thẩm định trong khoảng 18-24 tháng, Cục SHTT sẽ ra kết luận về việc đơn đáp ứng tiêu chuẩn bảo hộ và được cấp bằng hay không. Chi phí ở giai đoạn này như sau:

Nội dung công việc Lệ phí nhà nước Phí dịch vụ
1. Phí cấp Giấy chứng nhận đăng ký cho 1 nhãn hiệu cho 1 nhóm đầu tiên 360.000 Liên hệ
2. Phí cấp văn bằng cho mỗi nhóm tiếp theo 100.000 Liên hệ

Lưu ý: Chi phí nêu trên được áp dụng đối với đơn thuận lợi và chưa bao gồm chi phí phát sinh (nếu có) cho việc thúc đẩy nhanh tiến trình đơn, trả lời từ chối, trả lời ý kiến phản đối cấp của các bên thứ ba, sửa đổi, khiếu nại, chuyển nhượng,… Chi phí cho các công việc này tùy thuộc vào mức độ phức tạp của vụ việc và được thực hiện khi có sự đồng ý của Quý Khách hàng, mức chi phí cơ bản chỉ từ 2.000.000 VNĐ

Để được hỗ trợ về việc đăng ký bản quyền thương hiệu, đồng thời có thông tin cụ thể về chi phí đăng ký nhãn hiệu 2018, Quý khách vui lòng liên hệ ngay với chúng tôi để được tư vấn miễn phí 24/7 và ngay lập tức:

CÔNG TY TNHH TƯ VẤN HALI

Số 3, ngõ 409 đường Kim Mã, phường Ngọc Khánh, quận Ba Đình, thành phố Hà Nội

Hotline/zalo/viber: 0968.35.11.00

Email: info@halilaw.com