bảo hộ nhãn hiệu và thương hiệu

BẢO HỘ NHÃN HIỆU – ĐỪNG CHẬM TRỄ

Rất nhiều doanh nghiệp hiện nay chưa ý thức được vai trò của việc bảo hộ nhãn hiệu và việc này có thể gây ra nhiều hậu quả rất nghiêm trọng và tốn kém chi phí sau này

Tại sao phải bảo hộ nhãn hiệu?

Bảo hộ nhãn hiệu nhằm các mục đích như sau:
– Bảo vệ thành quả đầu tư và uy tín của doanh nghiệp đối với các sản phẩm/dịch vụ của mình
– Khuyến khích cạnh tranh lành mạnh, hấp dẫn các nguồn đầu tư trong và ngoài nước
– Đảm bảo lợi ích của người tiêu dùng để lựa chọn được những sản phẩm uy tín
– Nâng cao giá trị thương mại cho doanh nghiệp

Tại sao doanh nghiệp cần đăng ký nhãn hiệu?

Nếu nhãn hiệu không được đăng ký bảo hộ thì khi doanh nghiệp đưa sản phẩm ra thị trường, người khác có thể bắt chước dễ dàng mà doanh nghiệp không có cơ sở pháp lý để yêu cầu các cơ quan nhà nước có thẩm quyền buộc họ phải chấm dứt việc đó.
Mặt khác, việc sử dụng một nhãn hiệu không được đăng ký có thể vi phạm nhãn hiệu đã được đăng ký của một người khác và có thể bị xử lý theo pháp luật.
Nếu nhãn hiệu đã trở nên nổi tiếng và được nhiều người biết tới, thì quyền sở hữu chỉ được ghi nhận khi được Cục Sở hữu trí tuệ cấp Giấy chứng nhận đăng ký nhãn hiệu.

Đăng ký nhãn hiệu như thế nào?

Nhãn hiệu nếu đáp ứng các điều kiện bảo hộ theo quy định sẽ được cấp Giấy chứng nhận Đăng ký Nhãn hiệu (GCN). GCN sẽ có hiệu lực kể từ ngày cấp bằng cho tới hết 10 năm tính từ ngày Nộp đơn. Hết 10 năm, có thể tiến hành gia hạn GCN nhiều lần liên tiếp, mỗi lần 10 năm.

Một Đơn đăng ký Nhãn hiệu khi nộp vào Cục Sở hữu trí tuệ, nếu thuận lợi (không có bất kỳ từ chối nào) sẽ được xử lý theo trình tự và thời gian như sau:

Theo quy định, thời gian từ thời điểm nộp đơn đến thời điểm cấp bằng khoảng 12-14 tháng. Tuy nhiên, hiện nay do số đơn đăng ký tại Cục SHTT đang quá tải trong khi số lượng thẩm định viên có hạn nên thời gian thẩm định thường kéo dài hơn dự kiến. Do vậy tổng thời gian dự kiến trên thực tế cho quá trình đăng ký là khoảng 18-24 tháng.

Vui lòng LIÊN HỆ NGAY với chúng tôi hoặc comment dưới đây để được báo giá chi tiết và tư vấn miễn phí việc đăng ký nhãn hiệu. 

sáng chế và phát minh

SÁNG CHẾ VÀ PHÁT MINH KHÁC NHAU NHƯ THẾ NÀO?

Sáng chế và phát minh thường được sử dụng nhầm lẫn với nhau và rất nhiều người cho rằng sáng chế và phát minh là một. Tuy nhiên, xét trên nhiều khía cạnh và về bản chất, mặc dù đều là những thành tựu sáng tạo khoa học – kỹ thuật của con người nhưng sáng chế và phát minh lại có nhiều điểm khác biệt lớn, có thể kể đến như:

Khái niệm

Nếu sáng chế là việc tạo ra những sản phẩm hay công nghệ mới nhằm ứng dụng vào cuộc sống thì phát minh lại là việc tìm ra những quy luật, hiện tượng vốn đã có sẵn trong tự nhiên mà trước đó chưa ai biết hoặc khám phá ra.

Ví dụ về những phát minh nổi tiếng được con người biết đến có thể kể đến định luật Acsimet, định luật vạn vật hấp dẫn của Newton, việc phát hiện ra các nguyên tố hóa học,…Sáng chế có thể kể đến máy hơi nước do James Watt sáng chế, ô tô,…và nhiều vật dụng đang được chúng ta sử dụng hàng ngày.

Vai trò

Phát minh có ý nghĩa quan trọng trong việc nâng cao hiểu biết và nhận thức của con người đối với thế giới vật chất, từ đó ứng dụng nó để phục vụ cho cuộc sống con người. Có thể nói phát minh là tiền đề cho những sáng chế cụ thể sau này.

Ngược lại, sáng chế cũng là một “công cụ” hữu ích để việc tìm ra những phát minh trở nên hiệu quả hơn. Kính thiên văn được sáng chế năm 1608 và được Galileo sử dụng để quan sát bầu trời, từ đó phát hiện ra những dãy núi trên mặt trăng. Mặc dù Galileo không sáng chế ra những dãy núi, nhưng ông phát hiện ra chúng nhờ kính thiên văn.

Phương thức bảo hộ của sáng chế và phát minh

Về mặt pháp luật, sáng chế là đối tượng của quyền sở hữu công nghiệp còn phát minh thì không. Sáng chế được tạo ra bởi một hoặc một nhóm tác giả có thể áp dụng trực tiếp vào sản xuất và có thể độc quyền nắm giữ để tạo ra các lợi ích kinh tế. Còn phát minh, không ai có quyền ngăn cấm mọi người tìm hiểu, sử dụng và khai thác các kiến thức đang tồn tại trong thế giới khách quan.

Sáng chế cần được bảo hộ ngay sau khi tạo ra nhằm đảm bảo việc độc quyền trong việc sản xuất, từ đó tạo ra nhiều giá trị hơn cho các nhà sáng chế nói chung và chủ sở hữu sáng chế nói riêng.

Để được tư vấn thêm về việc đăng ký bảo hộ sáng chế, hãy liên hệ ngay với chúng tôi để được hỗ trợ 24/7.

 

đặt tên thương hiệu - HALILAW

Cách đặt tên thương hiệu cho doanh nghiệp mới thành lập

Mỗi doanh nghiệp trước khi thành lập đều rất băn khoăn làm sao để đặt tên thương hiệu của mình thống nhất và phù hợp nhất cho chiến lược phát triển lâu dài. Sau đây sẽ là một số gợi ý hữu ích cho các chủ doanh nghiệp khi đặt tên thương hiệu để vừa có một tên ý nghĩa, vừa có thể bảo vệ được quyền sở hữu trí tuệ (nhãn hiệu) của mình

Đặt tên thương hiệu, sáng tạo logo, đặt tên thương mại thống nhất

Trong thực tế, rất nhiều doanh nghiệp trẻ đều nhầm lẫn giữa các khác niệm này và loay hoay tìm cho mình một hướng đặt tên hiệu quả. Rất nhiều tên doanh nghiệp được đặt theo sở thích, và các loại tên không thống nhất với nhau, do đó sức mạnh của việc nhận diện thương hiệu bị giảm đi khá nhiều.

Vì vậy, khi đặt tên doanh nghiệp, các chủ doanh nghiệp nên có tầm nhìn xa hơn cho việc liệu tên công ty có thể sử dụng làm logo hay không? tên công ty nên thiết kế ra sao để tạo ra tác dụng nhận diện và quảng cáo tốt nhất? Hệ thống tên, logo, thương hiệu nên sử dụng nội bộ như thế nào để tăng giá trị công ty. Sau đây là một số gợi ý hữu ích cho các chủ doanh nghiệp trước khi quyết định lựa chọn một cái tên cho doanh nghiệp của mình

Cấu tạo của một thương hiệu hiệu quả

  • Nhãn hiệu phải có cấu tạo độc đáo, dễ nhận biết để người tiêu dùng có thể phân biệt được giữa hàng ngàn sản phẩm hiện có trên thị trường
  •  Nên chọn từ ngữ hoặc từ ngữ kết hợp với hình ảnh để làm nhãn hiệu bởi người tiêu dùng có thể “mắt thấy” bằng thị giác và “tai nghe” bằng thính giác.
  • Nhãn hiệu nên ngắn gọn, dễ đọc (dễ phát âm) để có thể truyền đạt được từ người này sang người khác.
  • Khi chọn từ ngữ kết hợp với hình ảnh thì phần hình ảnh trong nhãn hiệu nên được trình bày một cách độc đáo, ấn tượng, không nên chọn hình ảnh quá cầu kỳ, phức tạp bởi lẽ các hình ảnh đó khó được người tiêu dùng nhớ đến. Vì vậy, rất ít doanh nghiệp lựa chọn tên thương hiệu chỉ có hình ảnh.
  • Màu sắc cũng là một yếu tố nổi bật tạo nên tính độc đáo, hấp dẫn của nhãn hiệu và ghi dấu ấn trong trí nhớ người tiêu dùng
  • Tên thương hiệu nên đáp ứng các điều kiện bảo hộ đối với nhãn hiệu và không thuộc những dấu hiệu loại trừ trong quy định của Luật Sở hữu trí tuệ.

Đăng ký bảo hộ tên thương hiệu như thế nào?

Việc đăng ký bảo hộ tên thương hiệu thực chất là việc bảo hộ nhãn hiệu tại cơ quan nhà nước có thẩm quyền để doanh nghiệp của bạn có thể “độc quyền” sử dụng và ngăn cấm các bên khác lợi dụng danh tiếng, uy tín của công ty bạn. Để có thêm thông tin về việc bảo hộ nhãn hiệu, vui lòng liên hệ ngay với chúng tôi để được tư vấn miễn phí 24/7.

 

sáng chế và phát minh

Khả năng phân biệt của tên thương mại

Tên gọi của các chủ thể kinh doanh chỉ được coi là tên thương mại (hay thường được gọi là tên công ty) và các chủ thể này được hưởng các quyền chủ thể đối với tên của mình khi đáp ứng được các yêu cầu và điều kiện bảo hộ cụ thể.

Tên thương mại muốn được bảo hộ phải có khả năng phân biệt

Không phải bất kỳ tên thương mại nào cũng được pháp luật bảo hộ. Để được bảo hộ theo pháp luật sở hữu trí tuệ, nhìn chung, tên thương mại phải có khả năng phân biệt chủ thể kinh doanh mang tên đó với chủ thể kinh doanh khác trong cùng lĩnh vực và khu vực kinh doanh.

Khả năng phân biệt này cần thiết được đặt ra trong cùng một lĩnh vực kinh doanh và khu vực kinh doanh với các yếu tố phân biệt chủ yếu như: Phân biệt về hàng hoá, dịch vụ, hoạt động, cơ sở kinh doanh. Thông qua những yếu tố này để cá thể hoá chủ thể kinh doanh này với chủ thể kinh doanh khác. Điều này cũng có thể được hiểu là nếu tên thương mại của hai chủ thể kinh doanh trùng nhau hoặc tương tự đến mức gây nhầm lẫn nhưng hai chủ thể kinh doanh trong hai lĩnh vực khác nhau, thuộc hai lãnh thổ khác nhau thì vẫn được chấp nhận bảo hộ. Cùng lĩnh vực và khu vực kinh doanh là hai điều kiện song song đi đôi với nhau, nếu thiếu một trong hai yếu tố đó thì tên thương mại sẽ không được bảo hộ.

Chẳng hạn như hai tên thương mại trùng nhau nhưng hai chủ thể kinh doanh lại không hoạt động trên một khu vực địa lý tuy rằng họ kinh doanh trong cùng một lĩnh vực hoặc hai chủ thể kinh doanh ở trên cùng một khu vực địa lý nhưng lại không kinh doanh trên cùng một lĩnh vực cũng không được pháp luật chấp nhận bảo hộ. Điều kiện bảo hộ này của tên thương mại cũng đơn giản hơn so với nhãn hiệu (theo quy định của pháp luật, một nhãn hiệu muốn được bảo hộ còn phải đáp ứng cả điều kiện: Phải không trùng và không tương tự tới mức gây nhầm lẫn với các hàng hoá, dịch vụ không trùng và tương tự nếu các nhãn hiệu đó được công nhận là nổi tiếng hay được thừa nhận rộng rãi, được nhiều người biết đến).

Tên thương mại được coi là có khả năng phân biệt nếu đáp ứng được các điều kiện sau đây:

  • Chứa thành phần tên riêng, trừ trường hợp đã được biết đến rộng rãi: Nếu tên thương mại chỉ có phần mô tả thì không được bảo hộ, bởi lẽ phần mô tả không có khả năng tạo nên tính phân biệt cho tên thương mại (hai doanh nghiệp có tên thương mại khác nhau có thể có phần mô tả giống nhau), vì vậy tên thương mại bắt buộc phải chứa thành phần tên riêng để tạo ra sự phân biệt giữa các chủ thể kinh doanh.
  • Tên thương mại không trùng hoặc tương tự đến mức gây nhầm lẫn với tên thương mại mà người khác đã sử dụng từ trước trong cùng lĩnh vực và khu vực kinh doanh.
nhãn hiệu và tên thương mại - HALI CONSULTANCY

7 vấn đề xung đột giữa nhãn hiệu và tên thương mại

Mặc dù cả pháp luật SHTT và pháp luật thương mại hiện hành đã có những quy định nhằm ngăn chặn xung đột giữa nhãn hiệu và tên thương mại, tuy nhiên, thực tiễn áp dụng pháp luật và giải quyết tranh chấp về vấn đề này vẫn còn rất nhiều vướng mắc và bất cập.

1. Về thời điểm xác lập quyền sở hữu công nghiệp đối với nhãn hiệu và tên thương mại.

Theo quy định tại khoản 3 Điều 6 Luật SHTT, quyền sở hữu công nghiệp đối với nhãn hiệu “được xác lập trên cơ sở quyết định cấp văn bằng bảo hộ của cơ quan nhà nước có thẩm quyền theo thủ tục đăng ký” (trừ nhãn hiệu nổi tiếng được xác lập trên cơ sở sử dụng) còn quyền đối với tên thương mại “được xác lập trên cơ sở sử dụng hợp pháp tên thương mại đó” mà không cần thực hiện thủ tục đăng ký tại Cục Sở hữu trí tuệ.

Như vậy, thời điểm xác lập quyền sở hữu công nghiệp đối với nhãn hiệu căn cứ vào văn bằng bảo hộ nhãn hiệu, không phụ thuộc vào việc người đăng ký đã sử dụng nhãn hiệu đó hay chưa, sử dụng vào thời điểm nào. Trong khi đó, quyền sở hữu công nghiệp đối với tên thương mại chỉ phát sinh khi tên thương mại đó đã được chủ thể sản xuất kinh doanh sử dụng trên thực tế. Theo Điều 29 Luật Doanh nghiệp năm 2014 thì tên doanh nghiệp được xác định trong giấy đăng ký doanh nghiệp của chủ thể kinh doanh, nhưng điều đó không có nghĩa là quyền đối với tên thương mại được phát sinh ngay tại thời điểm hoàn thành thủ tục đăng ký và được cấp giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp. Theo hướng dẫn tại Điều 1.6 Thông tư số 01/2007/TT-BKHCN ngày 14/02/2007 (Thông tư 01/2007)[1]khi sử dụng quyền và giải quyết tranh chấp quyền đối với tên thương mại, chủ thể có tên thương mại phải chứng minh quyền của mình bằng các chứng cứ thể hiện thời gian, lãnh thổ, lĩnh vực trong đó tên thương mại đã được chủ thể đó sử dụng”. Theo quy định của pháp luật SHTT, thời điểm xác lập quyền đối với tên thương mại của chủ thể kinh doanh căn cứ vào thời điểm và quá trình chủ thể đó sử dụng tên thương mại trong hoạt động của mình, gắn với khu vực và lĩnh vực kinh doanh. Vì vậy, thực tế sẽ xảy ra trường hợp thời điểm đăng ký kinh doanh không đồng nhất với thời điểm doanh nghiệp chính thức hoạt động và sử dụng tên thương mại. Trong những trường hợp này, việc xác định chính xác thời điểm xác lập quyền sở hữu công nghiệp đối với tên thương mại sẽ khó khăn, đặc biệt tranh chấp sẽ càng phức tạp khi tên thương mại đó lại xung đột với nhãn hiệu của chủ thể khác được xác lập trong khoảng thời gian này.

 2. Về xung đột quyền giữa tên thương mại và nhãn hiệu đã được sử dụng và thừa nhận rộng rãi hoặc nhãn hiệu nổi tiếng

Để ngăn chặn trường hợp tên thương mại được đăng ký xâm phạm quyền sở hữu công nghiệp đối với nhãn hiệu đang được bảo hộ, Điều 19 Nghị định 78/2015/NĐ-CP về đăng ký kinh doanh quy định chủ thể quyền đối với nhãn hiệu phải cung cấp các tài liệu làm căn cứ để xác định tên thương mại bị coi là xâm phạm quyền SHCN bao gồm: “Bản sao hợp lệ Giấy chứng nhận đăng ký nhãn hiệu,…,bản trích lục Sổ đăng ký quốc gia về nhãn hiệu… được bảo hộ do cơ quan quản lý nhà nước về sở hữu công nghiệp cấp; bản sao hợp lệ Giấy chứng nhận nhãn hiệu đăng ký quốc tế được bảo hộ tại Việt Nam do cơ quan quản lý nhà nước về sở hữu công nghiệp cấp”. Với quy định này, chủ sở hữu nhãn hiệu chỉ có thể chứng minh việc đăng ký tên thương mại là xâm phạm quyền đối với nhãn hiệu khi nhãn hiệu đó đã được đăng ký và được cấp văn bằng bảo hộ.

Tuy nhiên, bên cạnh những nhãn hiệu được đăng ký, khoản 2 Điều 74 Luật SHTT còn quy định về hai ngoại lệ nhãn hiệu có thể được bảo hộ mà không cần đăng ký, đó là nhãn hiệu được sử dụng và thừa nhận rộng rãi, quy định tại Điều 74.2.(g) và nhãn hiệu nổi tiếng quy định tại Điều 74.2.(i). Vì vậy, trong trường hợp một chủ thể kinh doanh đăng ký tên doanh nghiệp trùng với nhãn hiệu của người khác đã được người tiêu dùng biết đến rộng rãi hoặc được coi là nổi tiếng thì chủ thể đang sử dụng nhãn hiệu khó có thể chứng minh việc sử dụng tên thương mại là xâm phạm quyền SHCN theo quy định kể trên. Quy định của pháp luật thương mại chưa có quy định cụ thể để giải quyết tình huống xung đột quyền này.

3. Về điều kiện bảo hộ nhãn hiệu và tên thương mại theo pháp luật sở hữu trí tuệ và pháp luật thương mại

Đối với nhãn hiệu, theo quy định tại điểm k khoản 2 Điều 74 Luật SHTT, dấu hiệu không được bảo hộ là nhãn hiệu nếu “trùng hoặc tương tự với tên thương mại đang được sử dụng của người khác, nếu việc sử dụng dấu hiệu đó có thể gây nhầm lẫn cho người tiêu dùng về nguồn gốc hàng hóa, dịch vụ”. Điều 39.12.a Thông tư 01/2007/TT-BKHCN hướng dẫn dấu hiệu bị coi là gây nhầm lẫn về nguồn gốc, xuất xứ của hàng hoá, dịch vụ trong trường hợp: (iii) “Dấu hiệu là từ ngữ trùng hoặc tương tự với tên thương mại của người khác đã được sử dụng một cách hợp pháp cho cùng loại hàng hoá, dịch vụ và có khả năng làm cho người tiêu dùng lầm tưởng rằng hàng hoá, dịch vụ mang dấu hiệu là do người có tên thương mại nói trên sản xuất, thực hiện.” Trong trường hợp này, nhãn hiệu bị coi là không có khả năng phân biệt nếu: (i) trùng hoặc tương tự với tên thương mại của người khác đã được sử dụng hợp pháp; (ii) sử dụng cho cùng loại hàng hóa, dịch vụ; (iii) có khả năng gây nhầm lẫn cho người tiêu dùng. Quy định này của thông tư 01/2007 chưa bảo đảm tính khái quát và chưa dự liệu đến các trường hợp xung đột nhãn hiệu và tên thương mại sau đây:

Trường hợp 1: Hàng hóa, dịch vụ mang nhãn hiệu mặc dù “không cùng loại” với hàng hóa, dịch vụ của chủ thể có tên thương mại nhưng “tương tự”, “có liên quan”: ví dụ chủ thể A đăng ký nhãn hiệu “X” cho thực phẩm, đồ uống; trong khi đó, chủ thể B đã đăng ký tên thương mại “X” cho dịch vụ nhà hàng. Trong trường hợp này, sản phẩm thực phẩm, đồ uống “không cùng loại” với dịch vụ nhà hàng nhưng tương tự, có liên quan mật thiết, có khả năng gây nhầm lẫn cho người tiêu dùng về nguồn gốc của hàng hóa, dịch vụ.

Trường hợp 2: Khi tên thương mại xung đột với nhãn hiệu nổi tiếng thì kể cả khi được sử dụng cho hàng hóa, dịch vụ khác loại, không có liên quan thì khả năng gây nhầm lẫn vẫn xảy ra. Ví dụ nhãn hiệu Coca Cola là nhãn hiệu nổi tiếng cho sản phẩm đồ uống. Nếu chủ thể B đăng ký tên Coca Cola làm tên thương mại cho Ngân hàng vẫn có thể gây ra sự nhầm lẫn cho người tiêu dùng về việc ngân hàng này có liên quan đến Công ty Coca Cola, mặc dù đồ uống và ngân hàng không có liên quan đến nhau.

4. Về phạm vi bảo hộ nhãn hiệu và tên thương mại

Nhãn hiệu được bảo hộ trong phạm vi lãnh thổ, trong khi đó, tên thương mại được bảo hộ trong phạm vi lĩnh vực và khu vực kinh doanh của chủ thể sử dụng tên thương mại. Theo quy định của Điều 76 Luật SHTT, tên thương mại chỉ được bảo hộ nếu “có khả năng phân biệt chủ thể kinh doanh mang tên thương mại đó với chủ thể kinh doanh khác trong cùng lĩnh vực và khu vực kinh doanh”. Khoản 21 Điều 4 Luật SHTT quy định “khu vực kinh doanh” là “khu vực địa lý nơi chủ thể kinh doanh có bạn hàng, khách hàng hoặc có danh tiếng”. Với quy định này “khu vực kinh doanh” dựa trên phạm vi hoạt động của chủ thể kinh doanh, có thể chỉ giới hạn trong phạm vi một địa phương, cũng có thể trên phạm vi toàn quốc (giống như nhãn hiệu), thậm chí vượt ra khỏi biên giới quốc gia. Ví dụ các chủ thể kinh doanh như ngân hàng, các hãng hàng không thường xuyên có các giao dịch, hoạt động kinh doanh không chỉ ở phạm vi quốc gia mà ở cả phạm vi quốc tế.

Riêng đối với tên doanh nghiệp, pháp luật doanh nghiệp có những quy định cụ thể về phạm vi bảo hộ tên doanh nghiệp. Trước đây, việc quản lý doanh nghiệp theo địa giới hành chính và căn cứ vào các yếu tố như nơi doanh nghiệp đặt trụ sở chính, chi nhánh hay nơi doanh nghiệp đặt văn phòng giao dịch. Điều 11 Nghị định 88/2006/NĐ-CP của Chính phủ ngày 29/08/2006 về đăng ký kinh doanh quy định: “Không được đặt tên trùng hoặc tên gây nhầm lẫn với tên của doanh nghiệp khác đã đăng ký trong phạm vi tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương”, có nghĩa hai doanh nghiệp cùng lĩnh vực kinh doanh nhưng khác về phạm vi tỉnh, thành vẫn có thể đăng ký tên thương mại trùng. Rõ ràng là quy định của Nghị định 88/2006/NĐ-CP về đăng ký tên doanh nghiệp không thống nhất với quy định về điều kiện bảo hộ tên thương mại trong Luật SHTT, dẫn đến trong thực tế xảy ra rất nhiều tranh chấp khi hai chủ thể kinh doanh trong cùng lĩnh vực nhưng khác về nơi đăng ký kinh doanh lại đăng ký tên thương mại hoàn toàn trùng nhau…

Nhằm khắc phục sự thiếu thống nhất giữa pháp luật về đăng ký kinh doanh và pháp luật SHTT, Nghị định 43/2010/NĐ-CP về đăng ký doanh nghiệp được Chính phủ ban hành ngày 15/04/2010 đã có những sửa đổi cơ bản về đăng ký tên doanh nghiệp. Điều 14 Nghị định 43/2010/NĐ-CP quy định về những điều cấm khi đặt tên doanh nghiệp, trong đó khoản 1 quy định: “Không được đặt tên trùng hoặc tên gây nhầm lẫn với tên của doanh nghiệp khác đã đăng ký trong phạm vi toàn quốc, trừ những doanh nghiệp đã bị thu hồi Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp, các doanh nghiệp đã giải thể. Quy định này được áp dụng kể từ ngày 01 tháng 01 năm 2011”. Quy định này đã phần nào giải quyết được mâu thuẫn giữa quy định về đăng ký doanh nghiệp và quy định của pháp luật SHTT liên quan đến điều kiện bảo hộ tên thương mại.

Với tinh thần trên, Điều 17 Nghị định 78/2015/NĐ-CP thay thế Nghị định 43/2010/NĐ-CP quy định: “Người thành lập doanh nghiệp hoặc doanh nghiệp không được đặt tên doanh nghiệp trùng hoặc gây nhầm lẫn với tên của doanh nghiệp khác đã đăng ký trong Cơ sở dữ liệu quốc gia về đăng ký doanh nghiệp trên phạm vi toàn quốc, trừ những doanh nghiệp đã giải thể hoặc đã có quyết định có hiệu lực của Tòa án tuyên bố doanh nghiệp bị phá sản”.

Mặc dù pháp luật thương mại đã có những sửa đổi phù hợp với pháp luật SHTT, tuy nhiên, thực tế vẫn tồn tại trường hợp xung đột khi các doanh nghiệp trong cùng lĩnh vực kinh doanh đã đăng ký trùng tên theo Nghị định 88/2006/NĐ-CP trước đây. Để giải quyết tình trạng xung đột này, Nghị định 43/2010/NĐ-CP và Nghị định 78/2015/NĐ-CP đều đưa ra giải pháp là “khuyến khích” các doanh nghiệp đăng ký đổi tên hoặc bổ sung tên địa danh để làm yếu tố phân biệt với các doanh nghiệp trùng tên ở các tỉnh thành khác. Thực tế, việc đổi tên hay bổ sung một yếu tố nào đó vào tên doanh nghiệp là điều mà hầu hết các doanh nghiệp thường không mong muốn (trừ khi ở vào hoàn cảnh bắt buộc) vì nó ảnh hưởng nhiều đến hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp như: phải thay đổi toàn bộ hồ sơ, giấy tờ, con dấu, bảng hiệu, quảng cáo… có liên quan. Vì vậy, cách giải quyết xung đột này là không triệt để.

5. Về xử lý xung đột giữa bảo hộ nhãn hiệu và tên thương mại

Trường hợp xung đột giữa nhãn hiệu và tên thương mại được bảo hộ trước, nhãn hiệu chỉ có thể bị hủy trên cơ sở khiếu nại của chủ sở hữu tên thương mại theo quy định tại Điều 96 Luật SHTT với lý do nhãn hiệu không đáp ứng được điều kiện bảo hộ tại thời điểm cấp văn bằng. Tuy nhiên, theo quy định tại khoản 3 Điều 96 Luật SHTT, việc hủy bỏ hiệu lực văn bằng bảo hộ nhãn hiệu chỉ được thực hiện nếu nhãn hiệu được cấp chưa quá 5 năm (trừ trường hợp người khiếu nại chứng minh được việc đăng ký nhãn hiệu với động cơ không trung thực). Như vậy, việc song song tồn tại nhãn hiệu và tên thương mại trùng của hai chủ thể khác nhau vừa gây ra sự nhầm lẫn cho người tiêu dùng, đồng thời ảnh hưởng đến hoạt động sản xuất, kinh doanh của doanh nghiệp mà không có cách giải quyết.

6. Về tra cứu thông tin đăng ký nhãn hiệu và tên thương mại

Hiện nay, việc đăng ký nhãn hiệu phải trải qua quá trình thẩm định để đánh giá khả năng tương tự gây nhầm lẫn của nhãn hiệu. Mặc dù điểm k khoản 2 Điều 74 Luật SHTT quy định nhãn hiệu bị coi là không có khả năng phân biệt “nếu trùng hoặc tương tự với tên thương mại đang được sử dụng của người khác”, nhưng theo quy chế thẩm định đơn nhãn hiệu, nguồn thông tin bắt buộc để tra cứu đơn đăng ký nhãn hiệu không bao gồm cơ sở dữ liệu quốc gia về doanh nghiệp đã được đăng ký kinh doanh tại Việt Nam. Thực tế, nguồn thông tin về đăng ký doanh nghiệp chỉ được xem xét khi có đơn phản đối đăng ký nhãn hiệu hoặc yêu cầu hủy bỏ văn bằng bảo hộ nhãn hiệu trên cơ sở quyền đối với tên thương mại được bảo hộ trước; hoặc việc tra cứu nguồn này chỉ trong trường hợp cần thiết theo quan điểm của thẩm định viên phụ trách vụ việc. Ngược lại, trong việc đăng ký doanh nghiệp, cơ quan đăng ký cũng không tra cứu sang cơ sở dữ liệu về nhãn hiệu của Cục SHTT mà “đẩy” trách nhiệm tra cứu sang cho doanh nghiệp đăng ký. Thêm vào đó, mặc dù hiện nay, cơ quan nhà nước về quản lý kinh doanh và Cơ quan nhà nước quản lý SHTT (Cục SHTT) đã có hệ thống tra cứu công khai, tuy nhiên, hệ thống tra cứu vẫn còn rất nhiều bất cập. Cơ sở dữ liệu công khai về SHCN do Cục SHTT quản lý (viết tắt là IPLib) không được cập nhật thường xuyên, dẫn đến khả năng tên thương mại và nhãn hiệu bị trùng hoặc tương tự là hoàn toàn có thể xảy ra. Do vậy, tình trạng chồng lấn, xung đột quyền vẫn xảy ra, gây ra những tranh chấp, tổn thất về tiền bạc và cả uy tín cho nhiều chủ thể sản xuất, kinh doanh.

Một vấn đề nữa là ở Việt Nam hiện nay, việc đăng ký doanh nghiệp thuộc sự quản lý của rất nhiều bộ, ngành khác nhau. Bộ Kế hoạch và Đầu tư quản lý tên thương mại của các doanh nghiệp đăng ký kinh doanh theo Luật Doanh nghiệp; Bộ Tư pháp quản lý tên thương mại của các tổ chức hành nghề dịch vụ pháp lý; Bộ Công thương quản lý tên doanh nghiệp của các Sở giao dịch hàng hóa; Bộ Tài chính quản lý tên thương mại của các doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực bảo hiểm; Ngân hàng Nhà nước quản lý tên thương mại của các ngân hàng; Ủy ban Chứng khoán Nhà nước quản lý tên thương mại của các doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực chứng khoán… Các cơ quan kể trên (ngoại trừ Bộ Kế hoạch và Đầu tư) đều không phải là cơ quan đăng ký kinh doanh mà chỉ là cơ quan cấp giấy phép thành lập (thay cho Giấy đăng ký kinh doanh) nhưng lại không có báo cáo hay thông tin lại cho cơ quan quản lý kinh doanh. Đối với những chủ thể kinh doanh mà không phải là doanh nghiệp, thì thực tế không có cơ sở dữ liệu để thống kế, tra cứu. Điều này càng gây ra nhiều khó khăn, bất cập cho việc tra cứu thông tin để giải quyết tranh chấp, xung đột giữa nhãn hiệu và tên thương mại.

7. Vướng mắc trong biện pháp xử lý xung đột nhãn hiệu và tên thương mại

Tại Điều 11 Nghị định 99/2013/NĐ-CP ngày 29/08/2013 quy định xử phạt vi phạm hành chính đối với hành vi xâm phạm quyền đối với nhãn hiệu, tên thương mại, trong đó có quy định biện pháp khắc phục hậu quả là: “Buộc thay đổi tên doanh nghiệp, loại bỏ yếu tố vi phạm trong tên doanh nghiệp”. Tuy nhiên, cơ quan xử phạt không có thẩm quyền trong việc buộc doanh nghiệp phải đổi tên. Trong trường hợp tổ chức, cá nhân vi phạm không thực hiện việc đổi tên doanh nghiệp trong thời hạn do pháp luật quy định thì cơ quan có thẩm quyền xử lý vi phạm thông báo cho Phòng Đăng ký kinh doanh để yêu cầu doanh nghiệp báo cáo giải trình theo quy định tại Điểm c Khoản 1 Điều 209 Luật Doanh nghiệp. Trường hợp doanh nghiệp không báo cáo, Phòng Đăng ký kinh doanh thực hiện thu hồi Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp theo quy định tại Điểm d Khoản 1 Điều 211 Luật Doanh nghiệp.[2] Mặc dù so với các văn bản trước đây, Điều 19 Nghị định 78/2015/NĐ-CP được coi là đưa ra giải pháp khả thi để xử lý doanh nghiệp vi phạm nhãn hiệu, tuy nhiên, việc xử lý này vẫn còn khá phức tạp, kéo dài, đòi hỏi phải có cơ chế phối hợp chặt chẽ giữa cơ quan quản lý tên doanh nghiệp với cơ quan thực thi quyền SHCN.

[1] Thông tư số 01/2007/TT-BKHCN ngày 19/02/2007 hướng dẫn thi hành Nghị định số 103/2006/NĐ-CP ngày 22/09/2006 của Chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật SHTT về sở hữu công nghiệp, được sửa đổi bổ sung theo Thông tư số 13/2010/TT-BKHCN ngày 30/07/2010 và Thông tư số 18/2011/TT-BKHCN ngày 22/07/2011

[2] Điều 19 Nghị định 78/2015/NĐ-CP

bảo hộ nhãn hiệu và thương hiệu

Nhãn hiệu và chức năng của Nhãn hiệu

Khái niệm về nhãn hiệu

Nhãn hiệu là những dấu hiệu dùng để phân biệt hàng hoá dịch vụ cùng loại được sản xuất hoặc cung cấp bởi các Doanh nghiệp khác nhau. Nó phải là những dấu hiệu có thể nhìn thấy được bao gồm từ, ngữ, cụm từ, logo, hình ảnh hoặc sự kết hợp các yếu tố này thể hiện dưới dạng đen trắng hoặc màu sắc.

Theo định nghĩa của Tổ chức sở hữu trí tuệ thế giới (WIPO), nhãn hiệu là “dấu hiệu có khả năng phân biệt hàng hóa hoặc dịch vụ của doanh nghiệp này với hàng hóa, dịch vụ của doanh nghiệp khác” [1].

Khoản 16 Điều 4 Luật Sở hữu trí tuệ Việt Nam (Luật SHTT) đưa ra định nghĩa tương tự: “Nhãn hiệu là dấu hiệu dùng để phân biệt hàng hóa, dịch vụ của các tổ chức, cá nhân khác nhau”. Với quy định này, Luật SHTT Việt Nam đã chỉ rõ chức năng của nhãn hiệu là để phân biệt sản phẩm, dịch vụ của các nhà sản xuất, kinh doanh khác nhau

Chức năng của nhãn hiệu

Chức năng phân biệt và chỉ dẫn nguồn gốc

Nhãn hiệu thường đi kèm với sản phẩm và dịch vụ, là công cụ để Người tiêu dùng biết sản phẩm dịch vụ do đơn vị nào cung cấp. Do đó phân biệt sản phẩm/dịch vụ giữa các Doanh nghiệp chính là vai trò đầu tiên của nhãn hiệu.

Người tiêu dùng khi lựa chọn sản phẩm dịch vụ rất chú trọng đến nguồn gốc xuất xứ của sản phẩm dịch vụ đó. Và nhãn hiệu sẽ là công cụ thực hiện chức năng này để từ đó xây dựng uy tín sản phẩm của Doanh nghiệp trong mắt Người tiêu dùng, giúp Người tiêu dùng lựa chọn đúng sản phẩm uy tín.

Chức năng quảng cáo hoặc tiếp thị

Một nhãn hiệu được quảng bá và tiếp thị rộng rãi trên thị trường sẽ giúp sản phẩm dịch vụ mang nhãn hiệu đó tiếp cận tới gần gũi với Người tiêu dùng hơn. Thông qua đó, nâng cao được vị thế cạnh tranh của thương hiệu trên thị trường, đồng thời giúp Người tiêu dùng dễ dàng phân biệt sản phẩm dịch vụ của Doanh nghiệp này với Doanh nghiệp khác.

[1] “A trademark is a sign capable of distinguishing the goods or services of one enterprise from those of other enterprises” http://www.wipo.int/trademarks/en/

Để biế thêm thông tin chi tiết và quy trình đăng ký Nhãn hiệu, Quý khách vui lòng liên hệ ngay với chúng tôi để được tư vấn miễn phí 24/7 và ngay lập tức:

CÔNG TY TNHH TƯ VẤN HALI (HALILAW)

Số 3, ngõ 409 đường Kim Mã, phường Ngọc Khánh, quận Ba Đình, thành phố Hà Nội

Hotline/zalo/viber: 0968.35.11.00

Email: info@halilaw.com

chi phí đăng ký nhãn hiệu - HALILAW

CHI PHÍ ĐĂNG KÝ NHÃN HIỆU 2018

Chi phí đăng ký Nhãn hiệu 2018 phụ thuộc vào số nhóm sản phẩm/dịch vụ theo Bảng phân loại hàng hóa/dịch vụ quốc tế Ni-xơ

Theo đó, các chi phí dự kiến cho việc Đăng ký Nhãn hiệu như sau:

Giai đoạn 1: Tra cứu chuyên sâu

Mặc dù tra cứu chuyên sâu không phải là một thủ tục bắt buộc khi nộp đơn đăng ký Nhãn hiệu, tuy nhiên, việc tra cứu này nhằm mục đích đánh giá khả năng bảo hộ thành công của nhãn hiệu (độ chính xác lên đến 90-95%). Kết quả sẽ được gửi tới Quý Khách hàng trong vòng 02-03 ngày làm việc.

Chi phí tra cứu chuyên sâu khả năng bảo hộ của Nhãn hiệu phụ thuộc vào số nhóm sản phẩm/dịch vụ, với chi phí 500.000 VNĐ/nhóm. Tuy nhiên, dựa trên mong muốn hợp tác lâu dài với Quý Khách hàng, chúng tôi áp dụng mức ưu đãi giảm từ 10-30% phí dịch vụ cho việc tra cứu chuyên sâu từ nhóm thứ hai trở đi.

Nội dung công việc Chi phí (VNĐ)
1. Tra cứu chuyên sâu để đánh giá khả năng bảo hộ cho 1 Nhãn hiệu cho 1 nhóm dịch vụ đầu tiên 500.000
2. Tra cứu chuyên sâu cho mỗi nhóm dịch vụ tiếp theo 350.000 – 500.000

Giai đoạn 2: Nộp đơn đăng ký

Sau khi có kết quả tra cứu chuyên sâu, Quý Khách hàng có thể lựa chọn các nhóm có khả năng đăng ký cao để tiến hành nộp đơn tại Cục SHTT, với chi phí đăng ký cụ thể như sau:

Nội dung công việc Lệ phí nhà nước Phí dịch vụ
1. Nộp đơn đăng ký cho 1 nhãn hiệu cho 1 nhóm đầu tiên (không quá 6 dịch vụ) 1.000.000 Liên hệ
2. Nộp đơn đăng ký cho mỗi nhóm tiếp theo trong cùng một đơn, mỗi nhóm không quá 6 dịch vụ 730.000 Liên hệ
Cộng 2.460.000 Liên hệ

Giai đoạn 3: Cấp bằng

Sau khi đơn được thẩm định trong khoảng 18-24 tháng, Cục SHTT sẽ ra kết luận về việc đơn đáp ứng tiêu chuẩn bảo hộ và được cấp bằng hay không. Chi phí ở giai đoạn này như sau:

Nội dung công việc Lệ phí nhà nước Phí dịch vụ
1. Phí cấp Giấy chứng nhận đăng ký cho 1 nhãn hiệu cho 1 nhóm đầu tiên 360.000 Liên hệ
2. Phí cấp văn bằng cho mỗi nhóm tiếp theo 100.000 Liên hệ

Lưu ý: Chi phí nêu trên được áp dụng đối với đơn thuận lợi và chưa bao gồm chi phí phát sinh (nếu có) cho việc thúc đẩy nhanh tiến trình đơn, trả lời từ chối, trả lời ý kiến phản đối cấp của các bên thứ ba, sửa đổi, khiếu nại, chuyển nhượng,… Chi phí cho các công việc này tùy thuộc vào mức độ phức tạp của vụ việc và được thực hiện khi có sự đồng ý của Quý Khách hàng, mức chi phí cơ bản chỉ từ 2.000.000 VNĐ

Để được hỗ trợ về việc đăng ký bản quyền thương hiệu, đồng thời có thông tin cụ thể về chi phí đăng ký nhãn hiệu 2018, Quý khách vui lòng liên hệ ngay với chúng tôi để được tư vấn miễn phí 24/7 và ngay lập tức:

CÔNG TY TNHH TƯ VẤN HALI

Số 3, ngõ 409 đường Kim Mã, phường Ngọc Khánh, quận Ba Đình, thành phố Hà Nội

Hotline/zalo/viber: 0968.35.11.00

Email: info@halilaw.com

SỨ MỆNH CỦA LOGO TRONG XÂY DỰNG THƯƠNG HIỆU

Rất nhiều người nhầm lẫn rằng logo chính là thương hiệu của họ, và không thể phân biệt được giữa logo, nhãn hiệu, thương hiệu để có chiến lược xây dựng. Vậy làm thế nào để tạo dựng và bảo hộ logo cho doanh nghiệp của bạn.

Vậy logo là gì?

Logo (biểu tượng) là một hình ảnh để giúp người tiêu dùng có thể nhận biết ngay ra thương hiệu của bạn, sản phẩm dịch vụ mà bạn cung cấp. Vì vậy, logo như một mẩu quảng cáo nhỏ và cần phải có sức thu hút mạnh mẽ sự chú ý và ấn tượng của người tiêu dụng. Logo là công cụ đầu tiên để bạn truyền đạt đến khách hàng tinh thần doanh nghiệp của mình. Hơn nữa, logo cũng có thể coi là một kim chỉ nam cho hoạt động quảng bá thương hiệu của bạn, giúp toàn bộ chiến lược marketing thông suốt, nhất quán, tạo ra một bộ nhận diện thương hiệu vô hình vững mạnh.

Tạo ra logo như thế nào?

Sứ mệnh của logo là truyền tải các giá trị và mục tiêu của doanh nghiệp bạn. Vì vậy, trước khi tạo ra bất kỳ logo nào, bạn cần xác định được ý tưởng chủ đạo của mình, sau đó tìm kiếm một nhà thiết kế logo chuyên nghiệp và phù hợp với logo của bạn.

Bất kỳ nhà thiết kế logo nào cũng cần phải thiết kế dựa trên ý tưởng của bạn, chiến lược của bạn và gần gũi với bạn. Do vậy, logo không phân biệt công ty bạn lớn hay nhỏ, đầu tư nhiều tiền hay ít tiền mà thể hiện tâm huyết và mong muốn của bạn để phát triển sâu rộng hơn nữa.

Bảo hộ logo ra sao?

Trước và sau khi thiết kế, bạn cần phải biết được khả năng bảo hộ độc quyền logo của mình dưới dạng nhãn hiệu hoặc bản quyền tác giả đến đâu. Nếu bạn bỏ ra rất nhiều tiền để thiết kế và sử dụng một thời gian dài, nhưng sau đó logo này lại không thể được bảo hộ, thì không khác gì việc bạn mất bò mới lo làm chuồng.

Để việc đăng ký bảo hộ được thuận lợi và đúng quy trình, bạn nên liên hệ các đơn vị chuyên sâu về sở hữu trí tuệ để có thể hỗ trợ bạn tối đa trong mọi công việc và theo dõi trong suốt quá trình hồ sơ được thẩm định.

Vì vậy, logo có thể nói là một phần quan trọng và xuyên suốt trong chiến lược xây dựng thương hiệu của mỗi doanh nghiêp. Tạo dựng – thiết kế – bảo vệ logo là chìa khóa cơ bản đầu tiên để một doanh nghiệp bước chân vào thị trường cạnh tranh này.

Để được tư vấn cụ thể hơn về việc thiết kế, nhận diện và đăng ký bảo hộ logo, hãy liên hệ với chúng tôi để được hỗ trợ miễn phí:
CÔNG TY TNHH TƯ VẤN HALI

Số 3, ngõ 409 Kim Mã, phường Ngọc Khánh, quận Ba Đình, thành phố Hà Nội

Email: info@halilaw.com

Hotline: 0968.35.11.00

Liệu logo của bạn có thể thực hiện được sứ mạng đó? Nếu câu trả lời của bạn là không, thì có lẽ giờ chính là lúc bạn quan tâm đến việc củng cố chiến lược thương hiệu của bạn và tìm một mẫu logo mới để tái định vị lại hình ảnh công ty trong tâm trí người tiêu dùng.

Đơn đăng ký Nhãn hiệu được Cục SHTT xử lý như thế nào và trong thời gian bao lâu?

Đơn đăng ký Nhãn hiệu khi nộp vào Cục Sở hữu trí tuệ sẽ được thẩm định qua các giai đoạn như sau:

– Giai đoạn 1: Thẩm định hình thức kéo dài khoảng 02 tháng kể từ ngày nộp đơn;

– Giai đoạn 2: Đăng công báo sau 02- 03 tháng kể từ ngày đơn đăng ký được chấp thuận hợp lệ về hình thức;

– Giai đoạn 3: Thẩm định nội dung kéo dài 09- 12 tháng kể từ ngày đơn đăng ký được đăng trên công báo Sở hưu trí tuệ./

Trên thực tế, quá trình xử lý đơn đăng ký nhãn hiệu có thể kéo dài lên đến 20- 24 tháng do số lượng đơn đăng ký nộp vào Cục sở hữu trí tuệ ngày càng tăng. Tuy nhiên, đối với những đơn đăng ký nhãn hiệu do HAVILAW thực hiện sẽ được theo dõi sát sao và đảm bảo về thời gian thuận lợi nhất cho Quý khách, có thể rút ngắn xuống còn 12- 16 tháng.